Tăng lương hưu theo hướng chia sẻ, bảo vệ nhóm yếu thế

30/03/2026 10:33 AM


Theo chuyên gia Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam, lương hưu tăng 4,5% và bù đắp 200.000 đồng kết hợp hài hoà nguyên tắc đóng - hưởng với công bằng, bình đẳng; chia sẻ và bền vững đúng như quan điểm của Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.

 

Tăng lương hưu theo hướng chia sẻ, bảo vệ nhóm yếu thế
Ông Nguyễn Hải Đạt, Điều phối viên Chương trình Quốc gia về An sinh xã hội, Văn phòng Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam.

Bộ Nội vụ đang xây dựng dự thảo Nghị định điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH), trợ cấp hàng tháng từ 1/7, cùng thời điểm tăng lương cơ sở thêm 8%.

Theo đó, phương án 1 chia theo nhóm đối tượng. Phần lớn người hưởng được tăng 4,5% và cộng thêm 200.000 đồng mỗi tháng, áp dụng cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, lực lượng vũ trang, người làm công tác cơ yếu và nhiều nhóm hưởng trợ cấp thường xuyên khác. Riêng ba nhóm gồm người hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; người hưởng trợ cấp tuất trước năm 1995; và người chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu được đề xuất tăng 8%.

Phương án 2 áp dụng mức tăng 8%, tương đương mức điều chỉnh lương cơ sở, đồng loạt cho tất cả nhóm đang hưởng.

Ngoài ra, ở cả hai phương án, người hưởng trước năm 1995, mức chi trả được nâng lên tối thiểu 3,8 triệu đồng/tháng; nếu đang nhận dưới 3,5 triệu đồng sẽ được cộng thêm 300.000 đồng, còn từ 3,5 đến dưới 3,8 triệu đồng sẽ điều chỉnh đủ mức 3,8 triệu.

Tạp chí Kinh tế-Tài chính đã phỏng vấn ông Nguyễn Hải Đạt, Điều phối viên Chương trình Quốc gia về An sinh xã hội (ASXH), Văn phòng Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam, về hai phương án cũng như tham khảo kinh nghiệm quốc tế về cách điều chỉnh lương hưu, đảm bảo nguyên tắc đóng-hưởng và tinh thần chia sẻ của BHXH.

Phóng viên: Theo quan sát của ông và ILO, hai phương án điều chỉnh lương hưu đang được Bộ Nội vụ đề xuất có những điểm gì đáng chú ý và khác so với giai đoạn trước đây, ít nhất 10 năm liền kề?

Ông Nguyễn Hải Đạt: Giai đoạn 2016-2024, Chính phủ đã 6 lần điều chỉnh với các mức tăng lần lượt là: 8% (2016); 7,44% (2017); 6,92% (2018); 7,19% (2019); 7,4% (2022) và 15% (2024). Trong đó, năm 2024 có mức tăng cao nhất. Đặc điểm chung là đều điều chỉnh một mức chung đối với toàn bộ người hưởng lương hưu.

Năm 2026, Chính phủ đề xuất 2 phương án điều chỉnh lương hưu, trong đó ngoài phương án 2 đề xuất điều chỉnh lương hưu giống các lần trước đây là tăng đều 8% cho toàn bộ lương hưu thì phương án 1 đề xuất 1 mức tăng đều 4,5% cho toàn bộ người nghỉ hưu, cộng với mức tăng tuyệt đối 200.000 đ/tháng.

Tăng lương hưu theo hướng chia sẻ, bảo vệ nhóm yếu thế
Người hưởng lương hưu ở TP. Hồ Chí Minh.

Phóng viên: Trong hai phương án, quan điểm của ông/ILO nên chọn phương án nào? Vì sao?

Ông Nguyễn Hải Đạt: Các chuẩn ASXH quốc tế, đặc biệt là Công ước số 102 của ILO (1952) về tiêu chuẩn tối thiểu và Công ước số 128 của ILO (1967) về trợ cấp mất khả năng lao động, tuổi già và tử tuất, đều nhấn mạnh rằng các khoản trợ cấp ASXH, trong đó có lương hưu, cần được điều chỉnh khi có những thay đổi đáng kể về mức tiền lương hoặc mức giá/chi phí sinh hoạt.

Trên cơ sở đó, có thể thấy cả hai phương án Chính phủ đang đề xuất đều có điểm tích cực là mức điều chỉnh đều cao hơn mức tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2025 (3,31%). Điều này cho thấy việc điều chỉnh không chỉ nhằm bảo vệ sức mua của người hưởng lương hưu trước biến động giá cả, mà còn góp phần chia sẻ thành quả tăng trưởng kinh tế với người nghỉ hưu. Đây là yếu tố quan trọng để duy trì tính thỏa đáng của lương hưu, đồng thời hạn chế việc gia tăng khoảng cách về mức sống giữa người đã nghỉ hưu và những người đang tham gia hoạt động kinh tế.

Xét riêng từng phương án, mỗi phương án có những ưu điểm nhất định. Cụ thể, phương án 2, với mức tăng đồng loạt 8% cho tất cả các nhóm, có ưu điểm là đơn giản, minh bạch và đảm bảo tính đồng đều giữa các nhóm người hưởng. Cách tiếp cận này giúp duy trì tương quan tương đối giữa các mức hưởng, đồng thời phản ánh rõ nguyên tắc đóng- hưởng trong hệ thống BHXH, khi mức tăng gắn trực tiếp với mức hưởng hiện tại.

Trong khi đó, phương án 1 có ưu điểm là kết hợp hài hoà các nguyên tắc đóng - hưởng với công bằng, bình đẳng; chia sẻ và bền vững đúng như quan điểm của Nghị quyết 28 về cải cách chính sách BHXH. Phương án này không chỉ hướng đến mục tiêu đảm bảo tính thỏa đáng của lương hưu, mà còn thể hiện rõ vai trò tái phân phối và tăng cường tính chia sẻ của hệ thống an sinh xã hội. Với cấu phần tăng thêm bằng số tuyệt đối (200.000 đồng/tháng) kết hợp với mức tăng chung 4,5%, phương án này mang lại mức tăng tương đối cao hơn cho nhóm có lương hưu thấp. Với mức lương hưu bình quân khoảng 6,2 triệu đồng/tháng, tổng mức tăng tương đương khoảng 7,8% (bao gồm 4,5% tăng chung và khoảng 3,3% từ phần tăng tuyệt đối 200.000 đồng). Trong khi đó, đối với những người có mức hưởng thấp hơn, tỷ lệ tăng thực tế có thể cao hơn đáng kể, qua đó góp phần thu hẹp chênh lệch giữa các nhóm người hưởng.

Cách tiếp cận này phù hợp với định hướng cải cách chính sách BHXH tại Nghị quyết 28-NQ/TW, trong đó nhấn mạnh việc điều chỉnh lương hưu theo hướng tăng cường tính chia sẻ, bảo đảm tốt hơn quyền lợi của nhóm có mức hưởng thấp và dễ bị tổn thương.

Phóng viên: Nhiều người mong muốn tăng 8% đồng đều cho tất cả người thụ hưởng như lâu nay vẫn làm vì cho rằng như vậy mới công bằng. Nếu ưu tiên người đang hưởng mức thấp thì sẽ khiến người tham gia tìm cách đóng thấp và sau này “kiểu gì cũng được ưu tiên bù”. Theo ông, ý kiến này thế nào và giải quyết ra sao?

Ông Nguyễn Hải Đạt: Quan ngại rằng việc ưu tiên người hưởng thấp có thể tạo động cơ “đóng thấp để sau này được bù” là điều cần được lưu ý, nhưng trên thực tế, mức hưởng lương hưu chủ yếu vẫn phụ thuộc vào quá trình đóng góp dài hạn (mức tiền lương làm căn cứ đóng và thời gian đóng). Các điều chỉnh định kỳ như hiện nay chỉ mang tính bổ sung và không đủ lớn để làm thay đổi đáng kể tương quan tổng thể giữa người đóng cao và đóng thấp. Do đó, động cơ “lựa chọn đóng thấp” vì kỳ vọng được điều chỉnh sau này là không thực sự mạnh.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia áp dụng cách tiếp cận kết hợp: vừa bảo đảm điều chỉnh theo tỷ lệ để duy trì nguyên tắc đóng-hưởng, vừa có các yếu tố bổ sung (như mức tăng tối thiểu hoặc hỗ trợ thêm) để bảo vệ nhóm có mức hưởng thấp. Điều quan trọng là thiết kế chính sách sao cho các yếu tố chia sẻ này có mục tiêu rõ ràng, minh bạch và ở mức hợp lý, tránh làm suy giảm niềm tin vào mối liên hệ giữa đóng và hưởng.

Về lâu dài, để xử lý hài hòa hai mục tiêu này, cần đồng bộ nhiều giải pháp như tiếp tục hoàn thiện công thức tính lương hưu để phản ánh sát hơn mức đóng góp; Thiết kế các cơ chế hỗ trợ nhóm yếu thế thông qua các công cụ phù hợp, ví dụ như lương hưu tối thiểu hoặc trợ giúp xã hội); và truyền thông rõ ràng để người dân hiểu rằng hệ thống BHXH không chỉ là “bảo hiểm cá nhân” mà còn là một cơ chế chia sẻ rủi ro và bảo đảm an sinh cho toàn xã hội.

Như vậy, vấn đề không phải là lựa chọn tuyệt đối giữa “công bằng theo đóng góp” hay “chia sẻ”, mà là tìm được điểm cân bằng hợp lý giữa hai mục tiêu này trong từng giai đoạn.

Phóng viên: Theo quy định của Luật BHXH 2024, điều chỉnh lương hưu sẽ căn cứ vào CPI và khả năng cân đối của quỹ BHXH và ngân sách, tức nhấn mạnh vào an toàn của quỹ hơn trong khi Luật BHXH 2014 còn nhắc đến yếu tố “phù hợp với tăng trưởng kinh tế”. Vậy điều này có gây thiệt thòi cho người hưởng lương hưu không?

Ông Nguyễn Hải Đạt: Việc Luật BHXH 2024 nhấn mạnh căn cứ điều chỉnh lương hưu theo CPI và khả năng cân đối của quỹ BHXH và ngân sách phản ánh một ưu tiên quan trọng là cần hài hoà giữa mục tiêu bù đắp sức mua của lương hưu và mục tiêu đảm bảo tính bền vững tài chính của hệ thống trong bối cảnh già hóa dân số và áp lực chi trả ngày càng tăng. Đây là xu hướng chung ở nhiều quốc gia, bởi nếu quỹ không bền vững thì về lâu dài quyền lợi của người hưởng cũng khó được đảm bảo.

Tuy nhiên, điều này không nhất thiết đồng nghĩa với việc người hưởng lương hưu bị thiệt thòi, mà phụ thuộc vào cách thức thực hiện trên thực tế.

Nếu việc điều chỉnh chỉ bám sát CPI, thì sẽ giúp bảo vệ sức mua của lương hưu trước lạm phát, nhưng có thể khiến mức sống của người nghỉ hưu tụt lại tương đối so với người đang làm việc trong bối cảnh thu nhập chung của xã hội tăng lên.

Ngược lại, nếu trong quá trình thực hiện, Nhà nước vẫn xem xét yếu tố tăng trưởng kinh tế (ví dụ thông qua các đợt điều chỉnh cao hơn CPI khi điều kiện cho phép), thì vẫn có thể chia sẻ thành quả tăng trưởng kinh tế với người nghỉ hưu, qua đó duy trì tính thỏa đáng của lương hưu.

Các tiêu chuẩn lao động quốc tế cũng khuyến nghị rằng điều chỉnh lương hưu cần xem xét không chỉ biến động giá cả mà cả biến động tiền lương hoặc mức sống chung, nhằm tránh gia tăng khoảng cách giữa người nghỉ hưu và người đang làm việc.

Phóng viên: Trên thế giới, các nước có hệ thống BHXH tương đồng như Việt Nam, lương hưu được điều chỉnh như thế nào? Việt Nam có thể tham khảo gì, thưa ông?

Ông Nguyễn Hải Đạt: Trên thế giới, các quốc gia đều tiếp cận việc điều chỉnh lương hưu trong tổng thể chính sách an sinh xã hội và mục tiêu quản trị tốt hệ thống hưu trí. Theo đó, điều chỉnh lương hưu không phải là một quyết định đơn lẻ, mà gắn chặt với các tham số quan trọng khác của hệ thống như tỷ lệ đóng góp, tuổi nghỉ hưu, công thức tính mức hưởng và thực tiễn đóng góp của người lao động; đồng thời cần lưu ý đến nhóm có thời gian đóng ngắn, mức hưởng thấp, cũng như các yếu tố nhân khẩu học như già hóa dân số và tỷ lệ phụ thuộc.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, quản trị tốt một chế độ lương hưu đòi hỏi các dự báo chi phí dài hạn phải bao gồm cả chi phí của các điều chỉnh mức hưởng trong tương lai. Trên cơ sở đó, các tham số của hệ thống cần được thiết kế và điều chỉnh phù hợp để bảo đảm đủ nguồn tài chính, đồng thời duy trì tính thỏa đáng của lương hưu ở mức xã hội mong muốn. Ví dụ, nhiều quốc gia xác định mục tiêu chính sách dưới dạng một tỷ lệ nhất định giữa lương hưu bình quân và tiền lương bình quân, hoặc giữa thu nhập của hộ có người nghỉ hưu và hộ có người đang làm việc.

Nhiều quốc gia có công thức điều chỉnh được xác định trước và áp dụng hằng năm, đồng thời chính công thức này được rà soát, điều chỉnh định kỳ vài năm một lần, dựa trên các yếu tố như tăng trưởng kinh tế, tính bền vững tài chính của hệ thống và các yếu tố liên quan khác.

Từ thực tiễn quốc tế, có thể rút ra một số bài học quan trọng cho Việt Nam như cơ chế điều chỉnh lương hưu cần cân bằng giữa tính thỏa đáng và tính bền vững tài chính, thay vì chỉ nhấn mạnh một phía. Điều chỉnh theo CPI có thể đóng vai trò là mức sàn bảo vệ sức mua, nhưng về dài hạn cần xem xét thêm yếu tố tăng trưởng thu nhập để tránh gia tăng khoảng cách giữa người nghỉ hưu và người đang làm việc.

Việt Nam cũng có thể kết hợp giữa điều chỉnh theo tỷ lệ và các hỗ trợ có mục tiêu cho nhóm hưởng thấp có thể tăng cường công bằng mà không làm suy giảm nguyên tắc đóng- hưởng.

Ngoài ra, cơ chế điều chỉnh cần rõ ràng, minh bạch và có tính dự đoán, đồng thời vẫn có một mức độ linh hoạt nhất định để ứng phó với các biến động kinh tế-xã hội. Các quyết định chính sách dựa trên phân tích định lượng, đánh giá tài chính quỹ và đối thoại xã hội.

Phóng viên: Xin cám ơn ông!

 

https://ansinh.tapchikinhtetaichinh.vn/