Điểm tin chính sách BHXH, BHYT, BHTN kỳ tháng 2/2026

02/03/2026 10:44 AM


Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh thông báo phát hành Điểm tin Chính sách BHXH, BHYT, BHTN số tháng 02 năm 2026 làm tài liệu tuyên truyền, hướng dẫn triển khai thực hiện các điểm mới, các thay đổi của chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) và phục vụ cho việc thực hiện tốt công tác hỗ trợ người tham gia, thụ hưởng, nâng cao chất lượng phục vụ.

I. CHÍNH SÁCH/CHÍNH SÁCH MỚI

1. Thông tư số 60/2025/TT-BYT ngày 31/12/2025 quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp.

- Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 02 năm 2026.

- Thông tư ban hành Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp (35 bệnh nghề nghiệp và ban hành kèm 35 phụ lục đính kèm).

- 7 điểm người lao động cần biết về bệnh nghề nghiệp theo Thông tư 60/2025/TT-BYT: (1) Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, làm căn cứ bảo vệ quyền lợi người lao động; (2) Người lao động mắc bệnh nghề nghiệp do yếu tố công việc, dù đang làm việc hay đã nghỉ việc, vẫn được xem xét hưởng chế độ BHXH nếu đủ điều kiện; (3) Chẩn đoán bệnh nghề nghiệp phải được thực hiện tại cơ sở y tế đủ điều kiện, theo tiêu chí chuyên môn thống nhất trên toàn quốc; (4) Giám định mức suy giảm khả năng lao động là căn cứ trực tiếp để xác định mức hưởng các chế độ BHXH do bệnh nghề nghiệp; (5) Quyền lợi BHXH gồm: trợ cấp một lần hoặc hằng tháng, thanh toán chi phí khám chữa bệnh, trợ cấp phục vụ, trợ cấp tuất (nếu đủ điều kiện); (6) Không yêu cầu người lao động chứng minh lỗi của người sử dụng lao động, chỉ cần có căn cứ y tế và quá trình tiếp xúc nghề nghiệp phù hợp; (7) Thực hiện thống nhất trên toàn quốc, bảo đảm minh bạch, công bằng trong giải quyết chế độ bệnh nghề nghiệp.

2. Nghị quyết 261/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội, về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá cho công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

- Nghị quyết này có hiệu lực thi hành 01/01/2026

- Mở rộng quyền lợi chăm sóc sức khỏe và giảm chi phí y tế cho người dân: Người tham gia bảo hiểm y tế thuộc hộ gia đình cận nghèo, người cao tuổi từ đủ 75 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội được áp dụng mức hưởng 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế.

- 6 điểm đáng chú ý từ Nghị quyết 261/2025/QH15 về chăm sóc sức khỏe Nhân dân: (1) Đặt sức khỏe người dân ở vị trí trung tâm, coi bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe là nền tảng cho phát triển bền vững; (2) Ưu tiên đầu tư cho y tế cơ sở và y tế dự phòng, giúp người dân được chăm sóc sức khỏe sớm, giảm bệnh tật và chi phí điều trị; (3) Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, phát triển y tế hiện đại, chuyên sâu, đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số; (4) Chăm lo sức khỏe người lao động và các nhóm yếu thế, chú trọng phòng, chống bệnh nghề nghiệp, bệnh không lây nhiễm; (5) Áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù về tài chính và nhân lực y tế, thu hút, giữ chân đội ngũ cán bộ y tế; (6) Hướng tới mục tiêu người dân được tiếp cận dịch vụ y tế kịp thời, chất lượng và công bằng hơn trên toàn quốc.

3. Công văn 924/SNV-VLATLĐ ngày 16/01/2026 của Sở Nội vụ về việc thực hiện Nghị định 374/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về Bảo hiểm thất nghiệp.

- Công văn hướng dẫn đơn vị sử dụng lao động về công tác triển khai thực hiện Nghị định 374/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về Bảo hiểm thất nghiệp.

- Trách nhiệm thi hành của người sử dụng lao động, tổ chức dịch vụ việc làm công, cơ quan BHXH, Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp Thành phố, Ban Quản lý Khu công nghệ cao Thành Phố, UBND các xã, phường, đặc khu Côn Đảo.

- Những nội dung chính tại Công văn 924/SNV-VLATLĐ về Bảo hiểm thất nghiệp: (1) Hướng dẫn các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thực hiện đúng quy định về tham gia, đóng và giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động; (2) Làm rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc lập hồ sơ, cung cấp thông tin, phối hợp giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động; (3) Bảo đảm quyền lợi của người lao động, đặc biệt trong việc hưởng trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề theo quy định mới; (4) Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong công tác quản lý, theo dõi và giải quyết bảo hiểm thất nghiệp, hạn chế sai sót, chậm trễ; (5) Yêu cầu tuyên truyền, phổ biến kịp thời các quy định mới để người lao động và doanh nghiệp nắm rõ, thực hiện đúng, đủ và hiệu quả.

4. Theo KH số 745/KH-BHXH ngày 29/01/2026 của BHXH Thành Phố Hồ Chí Minh về Tổ chức hội nghị tuyên truyền, tư vấn đối thoại doanh nghiệp về chính sách BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN trên địa bàn Thành Phố năm 2026.

Theo Kế hoạch số 745/KH-BHXH ngày 29/01/2026, cơ quan BHXH Thành phố Hồ Chí Minh và BHXH cơ sở hàng quý sẽ tổ chức ít nhất 01 hội nghị đối thoại doanh nghiệp. Các đơn vị sử dụng lao động chủ động theo dõi các thông tin về thời gian và địa điểm theo Thông báo của cơ quan BHXH và đăng ký tham dự theo thời gian quy định nhằm cập nhật các nội dung mới về chính sách BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ- BNN trong năm 2026.

                 II. TƯ VẤN, GIẢI ĐÁP CHÍNH SÁCH

1. Tôi sinh con vào ngày 10/02/2026 (thai không bệnh lý, không có chỉ định của bác sĩ phải nghỉ việc dưỡng thai), tôi bắt đầu đóng BHXH từ 01/9/2025 đến thời điểm sinh con, trước tháng 9/2025 tôi chưa từng tham gia BHXH bắt buộc ở đâu. Xin hỏi trong trường hợp này tôi có được hưởng chế độ trợ cấp sinh con hay không?

Căn cứ điểm 1 Điều 8 mục II -Chế độ thai sản, Thông tư số 12/2025/TT-BNV ngày 30/6/2025 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết một số điểu của Luật BHXH về BHXH bắt buộc: Thời gian 12 tháng hoặc 24 tháng liền kề trước khi sinh con hoặc nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi được xác định như sau:

a) Trường hợp sinh con hoặc nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi trước ngày 15 của tháng thì tháng sinh con hoặc nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi không tính vào thời gian 12 tháng hoặc 24 tháng trước khi sinh con hoặc nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi;

b) Trường hợp sinh con hoặc nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi từ ngày 15 trở đi của tháng và tháng đó có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thì tháng sinh con hoặc nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi được tính vào thời gian 12 tháng hoặc 24 tháng trước khi sinh con hoặc nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi. Trường hợp tháng đó không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thì thực hiện theo quy định tại điểm a khoản này.

 Như vậy, trong trường hợp thai không bệnh lý, không có chỉ định của bác sĩ phải nghỉ việc dưỡng thai, điều kiện là đóng đủ 06 tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh, người lao động mới đóng được 05 tháng (9/2025-01/2026) chưa đủ điều kiện để hưởng trợ cấp thai sản sinh con.

2.Tôi vừa đi làm ở công ty, có hợp đồng lao động, đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ ở mức cao nhất và vừa là chủ hộ kinh doanh. Vậy tôi có phải đóng BHXH bắt buộc cho chủ hộ kinh doanh không?

Căn cứ khoản 2 điểm a khoản 3 Điều 3 Nghị định số 158/2025/NĐ-CP quy định: đối tượng quy định tại khoản 2 Điều này đồng thời thuộc đối tượng quy định tại một trong các điểm b, c, d, đ, e, i, a, l, k, n, h và g khoản 1 Điều 2 của Luật BHXH thì tham gia BHXH bắt buộc theo đối tượng tương ứng quy định tại điểm b, c, d, đ, e, i, a, l, k, n, h hoặc g khoản 1 Điều 2 của Luật BHXH theo thứ tự đến trước.

Đối chiếu quy định trên, ông là Chủ hộ kinh doanh nhưng đồng thời đi làm ở Công ty, làm việc theo hợp đồng lao động, thì không đóng BHXH bắt buộc theo chủ hộ kinh doanh.

3. Tôi là công nhân thi công công trình và ký hợp đồng không xác định thời hạn, trong tháng tôi nghỉ việc 15 ngày. Công ty không đóng BHXH cho tôi trong tháng đó có đúng không? Lương 1 ngày công của tôi 400.000 đồng/ngày.

Trả lời:

Căn cứ khoản 5 Điều 33 Luật BHXH số 41/2024/QH15 quy định: “Đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, d và i khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật này mà không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì người lao động không phải đóng BHXH tháng đó, trừ trường hợp người sử dụng lao động và người lao động có thỏa thuận về việc có đóng BHXH cho người lao động tháng đó với căn cứ đóng bằng căn cứ đóng BHXH tháng gần nhất”.

Đối chiếu quy định trên, để xác định việc phải tham gia BHXH bắt buộc hay không thì ông/bà căn cứ số ngày nghỉ việc không hưởng tiền lương trong tháng đó nếu từ 14 ngày làm việc trở lên thì không phải đóng BHXH, trừ trường hợp người sử dụng lao động và ông/bà có thỏa thuận về việc đóng BHXH trong thời gian đó với căn cứ đóng bằng căn cứ đóng BHXH tháng gần nhất.

Phòng TTHT